ĐẬP ĐÁ GẶP NGỌC, ĐẢI CÁT T̀M VÀNG
Hồ Trường An
[Ảnh
1991]
Hồi 7 tuổi, tôi được nghe
người thím dâu tôi kể chuyện Giai Nhân và Ác Quỷ
(tên nguyên gốc bằng tiếng Pháp là La Belle et La Bête)
của Nữ Bá tước Jeanne
de Leprince de Beaumont. Chuyện kể một hoàng tử
bị một mụ phù thủy trù ếm trở thành con ác
quỷ (quái vật đúng hơn với ḿnh người
mặt thú). Bà ta dặn chàng rằng sau này nếu có cô gái
nào yêu chàng với tấm ḷng chân thành th́ chàng sẽ xinh
đẹp trở lại. Quả vậy về sau, có
một cô gái đẹp người lẫn đẹp
nết, sau một thời gian sống chung với chàng, t́m
ở chàng một tâm hồn cao thượng nên yêu chàng tha
thiết và bằng ḷng kết hôn với chàng. Tức th́
chàng hiện nguyên h́nh trở lại một hoàng tử xinh đẹp như các vị nam
thần trên Thiên đ́nh tận ngọn cao sơn Olympia.
Cốt truyện được thi sĩ
kiêm điện ảnh gia Jean Cocteau thực hiện thành
phim La Belle et la Bête đưa
hai diễn viên điện ảnh Pháp là Jean Marais và Josette
Day lên tuyệt đỉnh vinh quang.
Sau này, khi chung sống với người
bạn ḷng, tôi được đương sự
giải thích cái ẩn dụ trong cốt truyện: Rằng
khi ta yêu người nào th́
đương sự dù xấu cũng hóa ra đẹp.
Đó là một khía cạnh tâm lư của con người.
Rồi tới tuổi 13 tuổi, tôi t́nh
cờ đọc truyện ngắn
La Légende de l'Homme à la Cervelle d'Or
(Truyền Kỳ Về Người Có Chiếc Sọ
Vàng). Đây là một truyện ngắn trong quyển
tập truyện Lettres de Mon Moulin
(Những Lá Thư Viết Từ Nhà Cối Máy Xay Lúa)
của văn hào Alphonse Daudet. Đây là sự tích một
người có chiếc sọ vàng. Vàng trong sọ tạo
một kho tàng phong phú cho y ta. Y ta bới vàng ra để
ăn tiêu phung phí cho tới ngày vàng gần cạn. Anh ta
gặp một cô gái mũm mĩm dễ thương,
nhưng ḷng dạ cạn cợt, thích tiêu xài theo hứng
bốc đồng. Rồi cô ta chết đi. Anh ta lấy
một số vàng c̣n lại trong sọ để làm lễ
ma chay cho vợ thật linh đ́nh. Sau đó, vào một
buổi tối, khi phố xá lên đèn, anh ta đứng
trước tủ kính một hiệu tiệm, chợt
thấy đôi giày bằng xa-tanh xanh viền lông thiên nga
rất đẹp. V́ quên rằng vợ ḿnh đă chết,
anh vào tiệm mua giày về tặng vợ. Người
nữ thương gia đứng phía sau tiệm chợt nghe
tiếng la, chạy ra th́ thấy y ta tay cầm đôi giày,
tay cầm nhúm vàng vấy máu, đứng nh́n bà ta với
vẻ mặt đau đớn.
Trong một cuộc phỏng vấn các nhà
văn nhà báo do tạp san Bách Khoa tổ chức (tôi quên
mất vào năm nào, h́nh như năm 1979 th́ phải),
nhạc học giả Trần văn Khê cho biết ḿnh
thích truyện ngắn La Légende
de l'Homme à la Cervelle d'Or
nhất. Theo ông, người có sọ vàng là nhà
nghệ sĩ. Chất vàng trong xương tủy óc năo
của đương sự là cảm hứng của
nghệ thuật để y ta
dâng hiến cho cuộc đời và tạo cái đẹp
cho nghệ thuật.
Đây cũng là truyện quái dị mà các
học sinh ban Thành Chung trong đó có tôi mê nhất. Nhưng
có lẽ bọn nhóc chúng tôi chẳng có đứa nào
biết cái ẩn dụ trong truyện mà chỉ thích thú
những t́nh tiết quái dị và éo le của tác phẩm mà
thôi.
* * *
Vào năm 1951, tôi chưa học hết ban
Thành Chung, th́ trên các nhật báo ở Sài G̣n loang tin cuốn
phim của Nhật Bản tựa là Rhashomon (Lă Sinh Môn) của diện ảnh
gia Akira Kurosawa đoạt giải thưởng Lion d'Or trong
Đại Hội Điện Ảnh tại Venise. Đây là cốt truyện dựa
theo truyện ngắn cùng tựa của văn hào Nhật
Bản Ryunosuke Akutagawa (1892 - 1927) . Đây là vinh dự chung
cho nghệ sĩ các nước Á Châu, sau cái vinh dự của
thi hào Ấn Độ Rabinranath Tagore đoạt giải
Nobel văn chương qua cả ngh́n bài thơ trong đó có
thi tập Les Offrandes Lyriques
(Hiến Lễ Thi Cảm).
Chính nhờ phim Lă Sinh Môn, điện
ảnh Nhật Bản được giới khán giả
Tây Phuơng chú ư và đôi tài tử hàng đầu là Toshiro
Mifune và Kyo Machiko trở thành diễn viên tên tuổi quốc
tế. Cốt truyện như sau: Chàng vơ sĩ dắt
vợ xuyên qua cánh rừng và bị ám sát. Nhà chức trách
điều tra th́ biết được người
vợ bị tướng cướp cưỡng hiếp.
Nhưng cái chết của chàng vơ sĩ th́ mờ ám.
Người vợ khai răng v́ thấy vợ bị
cưỡng hiếp mà ḿnh
bất lực không bảo vệ đuợc nàng nên chàng vơ sĩ tự tử. C̣n
tướng cướp th́ khai rằng sau khi nàng bị
cưỡng hiếp trở nên khinh chồng nên nàng bảo
hắn giết chồng nàng. Những nhân chứng khác trong
ngôi cổ miếu, mỗi người khai khác nhau, dù
mỗi lời khai của từng người (luôn cả
lời khai của người vợ, của tướng
cướp, của linh hồn người chồng về
nhập xác con đồng), tất cả đều có nhiều điểm
chung, ngoài những điểm dị biệt then chốt.
Vậy đâu là sự thật? Vậy
cốt truyện phim muốn nói điều ǵ? Muốn
thắp sáng cái ẩn dụ ǵ? Có phải người
trần mắt thịt chúng ta
với nhục nhăn bị giới hạn nên khi
đứng tại một vị trí nhỏ hẹp trong
không gian, chỉ thấy một phần nhỏ, một khía cạnh của sự
thực. Chỉ có Phật là đấng Chánh Đẳng
Chánh giác với Phật nhăn mầu nhiệm mới thấy
được toàn vẹn sự thực trong vũ
trụ, từ cái vĩ đại vô biên, đến cái
cực vi, thấy thông suốt luôn từ trong ra ngoài,
thấy đủ mọi góc cạnh phơi bày một
lượt. Trong vũ trụ này, con người giống
như những người mù xem con voi. Người sờ
được ṿi voi cho rằng voi giống như con
đĩa khổng lồ. Nguời sờ được
tai voi đổ hô là voi giống như cái quạt.
Người sờ được một chân voi nói
rằng voi giống như cây cột. Người sờ
được đuôi voi quả quyết voi giống cái
phất trần. Nhưng thật ra, con voi gồm cà
đầu, thân thể, chân, ṿi, tai đuôi. Thấy được tất cả những cái đó cùng một lúc
th́ mới là thấy con voi đích thực.
Cuốn phim Rashomon
gợi ư cho điện ảnh gia George Cukor thực
hiện phim The Girls với Gene
Kelly , Mitzi Gaynor, Kay Kendall, Taina Egg (1957), giúp cho điện
ảnh gia Martin Ritt thực hiện phim L'Outrage với Paul Newman, Laurence Harvey và
Claire Bloom (1965).
Vào năm 1982, tôi rời bỏ Paris, đinh
cư luôn ở Troyes, sống chung
dưới một mái nhà với người bạn
ḷng. Trên giá sách của đương sự có bày quyển
A Picture of Dorian Gray (Le Portrait de Dorian Gray/ Bức Chân Dung Của Chàng Dorian
Gray) mà tác giả là Oscar Wilde, do Edmond Jaloux và Félix Frapereau
dịch từ nguyên bản tiếng Anh (năm 1954). Oscar Wilde! Một tên tuổi lớn
trong văn học sử nước Anh vào thập niên 90
của Thế Kỷ 20, tức là vào thời Đệ
nhị Đế Quốc bên Pháp. Chính quyển A Picture Of
Dorian Gray cùng vở kịch Lady Windermere's Fan (L'Évetail de Lady Windermere/ Chiếc
Quạt của Phu Nhân Widermere) và vở kịch Salomé (dành
cho nữ hoàng kịch nghệ Pháp là Sarah Bernarhdt chủ
diễn) đă đưa ông lên tuyệt đỉnh vinh
quang của văn giới khắp hoàn vũ.
Cốt truyện như sau: Tại
xưởng vẽ của họa sĩ Basil Hallward, Huân
tước Henry ngắm bức chân dung do họa sĩ
vừa hoàn thành. Đây là một bức tranh toàn bích. Huân
tước gặp luôn ngựi mẫu của bức chân
dung kia. Đó là chàng quư tộc đẹp trai tên Dorian Gray,
một kẻ nhạy cảm, có nghệ sĩ tính, thích
sự hoàn hảo, rất ngưỡng mộ nhân sinh quan
của Huân tước Henry. T́nh nương của Dorian
Gray là Sybil Vane là một nữ kịch sĩ lừng danh.
Nhưng hôm nọ, v́ chỉ nghĩ tói người t́nh lang
tuấn mỹ của ḿnh trong lúc đóng tuồng nên nàng
diễn xuất dụng về. Dorian Gray trách móc nàng và
đoạn tuyệt với nàng. Sybyl Vane đau khổ và
tuyệt vọng nên tự tử. Lạ lùng thay, những
lát sơn trên bức chân dung của chàng co rúm lại,
biến khuôn mặt trong tranh của chàng xấu xí gớm
ghiếc! Dorian Gray đau đớn hạ sát họa sĩ
Basil Hallward. Những lát sơn trên bức tranh càng co rúm thêm.
Gương mặt trong tranh đă xấu xí lại càng
dữ tợn hơn, như khuôn mặt yêu tinh.
Thời gian trôi qua. Dù tuổi tác đă cao,
nhưng Dorian Gray vẫn giữ vẻ tươi trẻ.
H́nh ảnh chàng trong tranh mang hết những dấu vết
già nua thay thế cho chàng.
Nhưng rồi
khi cảnh sát t́m ra thủ phạm hạ sát họa
sĩ Basil Hallward là Dorian Gray. Họ bao vây nhà chàng. Chàng
tự tử. Khuôn mặt chàng bỗng đổi ra xấu
xí già nua trong khi đó, khuôn mặt chàng trong tranh lấy
lại cái mỹ mao trẻ trung như khi bức tranh
vừa mới hoàn thành xong.
Vậy th́ bức chân dung của chàng Dorian
Gray tượng trưng cho cái ǵ? Tác phẩm A Picture of Dorian
Gray có cái ẩn dụ ǵ? Xin thưa: Chân dung trong bức
tranh là h́nh ảnh, là cái bóng phản chiếu của nhân
vật Dorian Gray. C̣n cái nhân
diện và vóc dáng xinh
đẹp trẻ trung ở trong cuọc sống của
chàng dưới cặp mắt thế nhân là một con
người khả ái. Nhưng cái nhân diện và vóc dáng
ấy có phải là con người đích thực của
chàng đâu. Nó chủ động, gây ra ác nhân ác nghiệp;
tâm hồn phong ba và ngạo mạn của chàng đưa
đẩy cháng nhúng tay vào những tội ác mà không ai
biết. Cho nên chính cái h́nh ảnh trong tranh mới phản ảnh nguyên vẹn con
người thật của chàng. Chàng nh́n nó như con yêu
tinh nh́n h́nh ảnh của ḿnh trên cái kính chiếu yêu. Cho
nên chàng đau khổ, kinh hăi,
ghê tỡm. Khi chàng tự sát, chàng đi vào cơi hư vô
vĩnh cữu, bức chân dung kia không c̣n ai hung ác để
phản ảnh nữa nên nó trở về trạng thái ban
đầu: những lát sơn lấy lại vị trí
cũ, lấy lại luon màu sắc nguyên sơ. Cho nên con
ngựi trong tranh trở lại vẻ tươi trẻ và
tuấn mỹ thuở trước. Lúc ấy cái tử thi
của chàng phải nhận
lănh tất cả dấu vết của tâm hồn tàn ác kiêu
mạn, dấu vết của ác nghiệp ác quả.
Tóm lại, ở nhận vật Dorian Gray,
cái nhân diện và vóc dáng là cái bề ngoài che đậy môt
tâm hồn tội lỗi. Chính bức chân dung kia mới
hiển lộ và phản ảnh trọn vẹn con
người đích thật của chàng. Chúng ta t́m cái
ẩn dụ trong tác phẩm không khó bằng tác giả
đă sáng tạo cái ẩn dụ thâm thúy phi thựng.
Ẩn dụ ấy như tiếng c̣i báo động,
như hồi chuông báo tử bắt chúng ta nh́n sâu vào cái
đáy thẳm của hiện hữu, nh́n các tụy
đạo và cái vực sâu của nội giới con
người.
* * *
Văn chương của chúng ta, nhất
là truyện ngắn, truyện dài hầu như không có
ẩn dụ. Những ǵ hiện trên mặt chữ th́
vẫn là chữ đâu nghĩa đó, không khơi dậy
cho độc giả một ư t́nh nào khác tiềm ẩn
dưới mặt chữ. Tuy nhiên, về thi ca, những
nhà thơ ái quốc chống Thực Dân thường dùng
đồ vật như trong bài Cây Bắp (của cụ
Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân) Hột Lúa (của Phan
Văn Trị) để nói lên cái tấm ḷng yêu
nước yêu dân của ḿnh.
Cây Bắp
Luống
chịu ba trăng trấn cơi bờ
Hiềm
v́ thương chút chúng dân thơ
Nương oai thích lịch ôm con đỏ
Vưng
lịnh nam phong phất ngọn cờ
Miễn
đặng an nhà thêm lợi nước
Chi nài dăi gió lại dầm
mưa
Biển
hồ dầu lặng, tăm ḱnh bặt
Giải
giáp một phen chúng thảy nhờ.
Hột Lúa
Giă từ thành thị
dạo xa chơi
Thiên hạ
ai mà chẳng biết tôi
Cổi giáp
vàng kia phơi chốn chốn
Bày da
ngọc nọ rạng nơi nơi
Ông cha giúp nước từ
bao thuở
Ḍng giống
nuôi dân biết mấy đời
V́ vậy
liều ḿnh cơn nước lửa
Người
đà có thấu hỡi người ôi!
Đây là 2 bài
thơ có ẩn dụ. Vậy
ẩn dụ (parabole/ métaphore)
là ǵ? Là những vận sự
không được tác giả nói ngay nhu theo một
đường thẳng, mà chỉ nói cong queo ḷng ṿng
bằng cách mượn vận sự khác. Parabole theo
nghĩa toán h́nh học là đường cong. Phép ẩn
dụ chẳng những ngoài sự hiện diện t́nh ư
xoàng xĩnh trên mặt chữ (nghĩa đen) của
một tác phẩm văn chương mà c̣n có những ư
nghĩa cao siêu hơn (méta theo nghĩa tiếng Hy lạp là
ở trên, là siêu, là vượt bậc) ở nghĩa bóng.
Nếu cụ Thủ Khoa Huân
và cụ Cử nhân Phan văn Trị chỉ tả cây
bắp và hột lúa suông trơn qua dáng dấp biểu
kiến (aspect apparent) của
chúng th́ họ chỉ làm hai bài ngâm vịnh lục tục
thường tài. Cụ Thủ Khoa Huân đưa vào thơ tấm ḷng
ưu thời mẫn thế đối với giang san
tổ quốc th́ bài thơ mới ngậm ngùi, mới có
chiều sâu. C̣n cụ Phan nếu không tạo nên thân thế
và h́nh ảnh người chiến sĩ can trường
cứu nước giúp dân th́ bài thơ này làm sao lộng
lẫy nét hào hùng và sôi bừng bừng khí phách?
Nhưng mà này, tại sao chúng ta không nghĩ
rằng cụ Thủ Khoa Huân vịnh cây bắp để
nói lên hoài cái băo của ḿnh. Tại sao chúng ta không nghĩ
rằng cụ Cử Nhân Phan văn Trị mượn
hột lúa để nói lên cái chí khí của ḿnh? Điều
này trước đó có vua Lê Thái Tôn đă từng
mượn người bù nh́n, thằng mơ, người
ăn mày, cây chổi đề nói lên công trị nước
chăn dân cùng cái khí tượng đế vương
của ḿnh.
Người Bồ Nh́n
Quyền
trọng ra uy trấn cơi bờ
Vốn ḷng
v́ nước há v́ dưa
Xét soi
trưóc mặt đôi vừng ngọc
Vùng vẫy trên tay
một lá cờ
Dẹp
giống chim muông xa phải lánh
Dể quân
cày cuốc gọi không thưa
Mặc ai
nhảy nhót đường danh lợi
Ơn nước
đầm đ́a hạt móc mưa.
Lại có một ẩn dụ trong bài phú
Ngọc Tỉnh Liên (Hoa Sen
Trong Giếng Ngọc) của Thừa Tướng Mạc
Đỉnh Chi. Số là khi ông đậu trạng nguyên
được vào triều đ́nh yết kiến vua.
Vua chê ông nhỏ choắt và
xấu xí, muốn sa thảy ông. Cho
nên ông làm bài này để tự biện bạch. Bài
này nói lên cái khí phách của ông, ông tự ví ḿnh là hoa sen trong
giếng ngọc, hoa đă thanh cao (hoa sen tượng
trưng cho bậc quân tử), chốn sinh trưởng
lại càng tôn quư (giếng ngọc). Vua nhận thấy bài
phú này tuyệt tác nên lưu dụng ông. Xin trích một
đoạn bài phúNgọc T́nh Liên
trong Tập 3 của quyển Văn Đàn Bảo Giám do Trần Trung Viện biên
soạn (trang 195) :
Dĩ
nhi ca viết:
Giá
thủy tinh hề vi cung
Tạc lưu ly vi hộ
Toái pha lê vi nê
Hương phức ức hề trùng
tiêu
Đế văn phong hề nữ mộ
Quế tử lănh hề vô hương
Tố nga phẫn hề nữ đố
Thái dao thảo hề Phương châu
Vọng mỹ nhân hề Tương
phố
Kiển hà vi
hề trung lưu
Hạp
tương phản hề cố vũ
Khởi
hộ lạc hề vô dung
Thân
thuyền quyên hề đa ngộ
Cẩu dư bính
chi bất a
Quả
hà thương hồ phong vũ
Khủng phương hồng hề dao lạc
Hoài
mỹ nhân hề tuế mộ.
Dịch:
Ca rằng:
Thủy tinh làm mái cung đ́nh
Lưu li tạc để nên h́nh cung môn
Pha lê nát nhỏ làm bùn
Minh châu làm móc trên cành tưới cây
Hương thơm bay thấu từng mây
Bích thiên âu cũng mê say tấc ḷng
Quế thanh khóc vụng tủi thầm
Tố nga luống những mười
phần giận thân
Cỏ Dao hái chốn Phương tân
Bến Tương trông ngóng mỹ nhân dăi
dầu
Giữa ḍng lơ lửng v́ đâu
Non sông đất cũ cớ sao chẳng
về?
Đành nơi lưu lạc quản ǵ
Thuyền quyên lỡ bước lắm
bề gian truân
Một ḷng trung chính nghĩa nhân
Lạ chi mưa gió phong trần tuyết
sương!
Chỉn e lạt phấn phai hương
Tháng ngày thấm thoát mỹ nhân ai hoài.
(Khuyết
Danh)
* * *
Sau đó, vào thời Đệ Nhất
Cộng Ḥa có Tô Thùy Yên trong nhóm Sáng Tạo đă sáng tác
một bài thơ ẩn dụ nhan đề là Cánh Đồng Con Ngựa
Chuyến Tàu. Yên không phải là nhà thơ tư tưởng.
C̣n Phạm Thiên Thư, dù là tu
sĩ Phật giáo, nhưng ông vẫn loạng choạng và
quờ quạng đối với cái tinh thần Bát-nhă
tức là cái nền mống căn bản của tinh
thần Phật giáo. Đối với Phạm Duy,
triết học và tư tưởng tâm linh vẫn c̣n là
một vấn đề mù mịt đối với ông,
khi ông nhạc sĩ nầy đặt lời cho các bản
nhạc của ông. Bên văn xuôi, Vơ Phiến, qua các bài tùy
bút của ông, ông chỉ nghĩ đến những cái bí
ẩn trong cuộc sống ở phương diện
hiện tượng mà thôi. Do đó,Vơ Phiến đào sâu tác
phẩm của ḿnh bằng nhân sinh quan. Ông chưa nghĩ tới
cái tối hậu, cái chân lư của hiện hữu, cái
bản thể của cuộc sống. C̣n Phạm Duy và Tô
Thùy Yên chỉ có thể tô điểm lời hát hoặc các
câu thơ của ḿnh bằng nhân sinh quan thấp thoáng bóng
dáng triết học qua các ngôn ngữ thần bí (langage
mystique). Thật ra, cả hai trang sức cho lối thơ
câu hát của ḿnh bằng
những ư t́nh khoác áo minh triết và thánh triết, chứ
không đưa thơ đưa lời hát của họ vào
tinh thần minh triết và thánh triết được.
Chúng ta vẫn thừa biết nhân sinh quan, ư t́nh chỉ
nhắm vào hiện tượng của sự vật. Trong
khi đó, tư tưởng triết học và tư
tưởng tâm linh (tức là minh triết) th́ nhắm vào
bản thể sự vật. Riêng Phạm Thiên Thư th́
trang điểm cho các câu thơ của ḿnh bằng ngôn
từ trong kinh kệ rất kệch cỡm. Cả bốn
Vơ Phiến, Phạm Duy, Tô Thùy Yên, Phạm Thiên Thư,
chưa chịu vào trong sân chứ nói ǵ vào tận trong ngôi
nhà của bản thể. Nhưng dù sao đi nữa,
họ vẫn làm cho thần trí sáng tạo của ḿnh bùng
vỡ biết bao ánh sáng đẹp huy hoàng. Dù sao họ
cũng vẫn đều là nghệ sĩ lớn. Thơ Tô
Thùy Yên, thơ Phạm Thiên Thư, lời hát của
Phạm Duy không thể đi vào cốt tủy đạo
Phật hay đạo Lăo như Vơ Chân Cửu, Nguyễn Tôn
Nhan thuở trước, như Thân thị Ngọc Quế,
Như Chi, Đặng thị Quế Phương, Nhất
Hạnh và Vĩnh Hảo sau này. Cững thế, văn
của Vơ Phiến chưa xông xáo vào tư tưởng
triết học, tâm linh như Nghiêm Xuân Hồng thuở
truớc và Vĩnh Hảo sau này. Chúng ta chớ đ̣i
hỏi nhiều hơn nữa ở họ. Họ làm
văn chương bằng kiến thức chứ không làm
văn chương bằng sự minh triết như
Dostoievski, Georges Bernanos, Herman Hesse (bên văn), như các thiền
sư Đông Nam Á qua những bài kệ, như thơ
của các đạo sư giáo phái Soufisme trong đó có nhà
thơ Rumi... Soufisme là một giáo phái của Hồi giáo
đặt trên tinh thần bất nhị (le non-deux/ le
non-dualisme) như tinh thần của Phật giáo và Lăo giáo.
Chúng ta thử đọc bài Cánh Đồng
Con Ngựa Chuyến Tàu
của Tô ThùyYên để t́m thử cái ẩn dụ
trong bài thơ này:
Trên cánh
đồng hoang thuần một màu
Trên cánh
đồng hoang dài đến đỗi
Tàu
chạy mau mà qua rất lâu
Tàu chay
mau tàu chạy rất mau
Ngựa rượt tàu rượt tàu rượt tàu
Cỏ cây cỏ cây lùi dài chóng mặt
G̣
nổng cao rồi thung lũng sâu
Ngựa
thở hào hển thở hào hển
Tàu
chạy mau vẫn mau vẫn mau
Mặt trời mọc xong mặt trời lặn
Ngựa gục đầu gục đầu gục
đầu
Cánh
đồng a! cánh đồng sắp hết
Tàu
chạy mau càng mau càng mau
Ngựa ngă lăn ḿnh mướt như cỏ
Chấm giữa
nền nhung một vết nâu
Ngoài cách dùng các điệp ngữ
để gây âm điệu xôn xao, dồn dập, hối
hả, bài thơ gây cho chúng ta cái cảm tưởng sự
đuổi rượt (hay là sự so tài đo sức) khốc liệt giữa một
động vật (con ngựa) và một động cơ
(con tàu). Sức của một động vật làm sao lao
nhanh bằng một vận tốc kinh khiếp của
một động cơ? Cho nên con ngựa phải ngă
quỵ, ngất xỉu hay có thể tắt thở khi
chưa đến cuối cánh đồng, c̣n con tàu vẫn
tiếp tục cuộc hành tŕnh cho đến đích
tức là cuối mức cánh đồng. Con ngựa
mệt mỏi và ngă quỵ ẩn dụ cho thời
đại làm công việc bằng tay chân, bằng sinh
lực của con người hay của gia súc đă
chấm dứt. Kỷ nguyên máy móc đă có mặt và sẽ giúp nhân loại đi xa
hơn trên tiến trinh sinh hoạt
( được ẩn dụ bằng cuối mức
cánh đồng).
Tôi t́nh cờ gặp bài Ngụ Ngôn Trong quyển Tuyển Tập
Thơ cũng củaTô Thùy
Yên. Tôi hơi bỡ ngỡ cái tựa của nó :
Một lăo mù hành
khất
Bị đánh cắp cây đàn
Mửa máu chết uất ức
*
Một con
dế anh chị
Khoác đôi cánh sét rỉ
Tiếng gáy mài không ra
*
Một
con đóm khoe ḿnh
Xài phá hết lân tinh
Ban đêm không dám lượn
*
Một
đứa bé mồ côi
Đi t́m hoài cha mẹ
Đâu biết là những ai?
Theo tôi, ngụ ngôn là bài thơ ẩn
dụ, mượn chuyện tầm thường,
chuyện khôi hài để móc xỏ, ngạo báng,
đả kích thói hư tật xấu của ngựi
đời. Nhà thơ Jean de La Fontaine viết ra những bài
ngụ ngôn, mượn những con vật dữ dằn và
thâm độc, những con vât hợm hỉnh kiêu căng
để công kích những bọn nịnh thần (les
courtisans) gây nhiều tệ đoan dưới triều
đại vua Louis XIV. Bài ngụ ngôn có tính cách răn
đời, dạy cho thế nhân những bài học luân lư.
Bài Ngụ Ngôn của Tô Thùy Yên
theo tôi là một bài thơ ẩn dụ ở 2 đoạn
giữa. Con dế uy dũng kia mất tiếng làm chúng ta liên tưởng viên
chỉ huy mất giọng th́ khó điều khiển ba quân
thuộc hạ của y. Chúng ta cũng có thể nghĩ
tới một ca sĩ có giọng hát đầy sinh
lực, nhưng giọng ấy trở nên rè rè th́ cái
thời vinh quang của y cũng phải chấm dứt.
Con đom đóm xài hết lân tinh làm chúng ta nghĩ
đến cảnh ngộ một mỹ nhân trụy
lạc nên với nhan sắc tàn phai, nàng không dám chường mặt
chốn dạ hội, nơi mà các vương tôn công
tử say mê nàng. Cái nghĩa thâm thúy của bài thơ rất
ai hoài tha thiết, chẳng có chút nhạo báng nào th́ đây
không phải là bài ngụ ngôn. Nó có một nồng
độ truyền cảm rất đậm đà hơn,
làm bàng hoàng người đọc rất lâu hơn.
Dù sao, bài thơ ẩn dụ hay bài thơ
ngụ ngôn đều có cái nghĩa thứ hai hay nghĩa
thứ ba ẩn dưới mặt chữ hay ở sau
lưng mặt chữ, từ cái vận sự tầm
thựng, cả hai phóng đại ra một hoặc nhiều
vận sự mênh mông hơn, phóng chiếu vào cơi
thưởng ngoạn chúng ta những h́nh ảnh và ư t́nh
đập mạnh vào ấn tượng chúng ta. Khác nhau
chăng là bài thơ ẩn dụ
thường có h́nh thức của bài bi ca (poème
saturnien). Khác nhau chăng là bài thơ ẩn dụ không
cần dạy đời hay răn người, Khác nhau
chăng là bài ngụ ngôn mang lấy h́nh thức bài thơ
phóng cuồng, ngạo mạn, móc xỏ, đả kích
(poème satirique).
Tôi c̣n nhớ vào 3 năm cuối của
thập niên 40, thuở tôi học lớp 3 (cours élémentaire) và lớp nh́ (cours moyen),
Bộ Quốc Gia Giáo Dục Nam Kỳ gồm một nhóm
giáo viên có uy tín chung soạn quyển Trăm Bài Tập
Đọc dành cho hai lớp
này. Trong quyển ấy có bài Ếch Mới phỏng theo bài thơ ngụ ngôn
của Nam Hương đă đăng trên báo Cậu
Ấm (thời tiền chiến). Cốt truyện như
sau: Chị ếch nọ có tật ưa làm đỏm.
Chị dùng chiếc nấm hương làm dù, lá tía tô là
khăn choàng đầu, hai trái ớt khoét thành đôi giày
đỏ. Chị diện dù, khăn, giày do chị chế
tạo rồi đỏng đảnh đi dạo đó
đây để khoe bộ đồ vía mới. Bất
ngờ một anh nông phu trờ tới. V́ vưóng đôi
giày đỏ, chị ếch chạy không kịp nên bị
anh ta bắt đem về nhà. Anh chặt đầu lột
da chị, thái nám, lá tía tô và ớt
đă có sẵn rải vào món xào cho thêm thơm ngon.
Cuối bài, nhóm biên soạn đề câu răn đời
như sau: Se sua thua gọn ghẻ.
* * *
Trước ngày 30/04/75, văn chương
Miền NamViệt Nam của chúng ta có một truyện ngắn Tan Trong
Suơng Mù của Nguyễn thị Hoàng. Xin đọc bài
bút khảo Nguyễn thị Hoàng & Nguyễn thị
Thụy Vũ trong tạp chí Gió Văn số 3. Thiết
tưởng cũng cần nhắc lại phớt qua.
Vợ ông họa sĩ Mishio chết.
Nhưng tấm ḷng tưởng nhớ của ông
đối với vợ không nguôi. Cho nên bà cứ quanh
quẩn theo ông như một người sống. Suốt
30 năm lúc nào bà cũng có mặt bên ông. Ông bỏ phế
hội họa. Bức chân dung vẽ bà lúc sinh thời
bỏ dở dang (chưa kịp vẽ đôi mắt
của bà th́ bà từ trần).
Rồi trong một đại hội
văn nghệ nọ, một
nàng nữ sĩ Việt Nam đẹp lộng lẫy
gặp ông bà Mishio. Giữa nhà danh hoa và một người
đẹp làm văn chương nẩy sinh một
niềm tương đắc bất ngờ. Nàng không
biết bà vợ ông đă chết từ lâu nên xin phép ông bà
cho nàng được đến viếng nhà họ. Ông
đâm ra tơ tưởng nàng. Bà vợ v́ là hồn ma nên
đọc rơ những biến chuyển tâm hồn của
chồng. Cho nên khi nàng nữ sĩ tới thăm, bà cho nàng
biết bà sẽ đi xa. C̣n ông như bừng sống,
bắt đầu vẽ trở lại. Nữ sĩ do t́nh
cờ c̣n nghe hai vợ chồng căi lẫy với nhau. Bà
quả quyết ông đă yêu nàng th́ bà không c̣n lư do ǵ
để ở với ông nữa. Ông th́ chối bay cối
biến. Rồi bên đầm nước trong lúc cả hai
dạo vườn, ông Mishio cho nữ sĩ biết
rằng vợ ông đă chết từ lâu. Ông bấy lâu nay
phí cả một cuộc đời để làm bạn
với hồn ma của vợ, bây giơ dù có vẽ
trở lại cũng không c̣n cảm hứng như
thuở hai vợ chồng sống trong cảnh nghèo nàn
thiếu thốn mà vẫn yêu nhau mặn nồng.
Khi nữ sĩ ra sân chùa th́ thấy bà
vợ đi về cuối góc sân, thân h́nh bà tan ră trong sương mù.
Như vậy, ẩn dụ của
truyện ngắn này là: dù bà vợ có chết đi,
nhưng nhà danh họa Mishio vẫn yêu thương
tưởng nhớ vợ luôn luôn. Như thế bà dù không
sống trong cơi dương trần, nhưng vẫn
sống trong tâm tưởng, trong hoài vọng của ông.
Giờ th́ trong trái tim ông có một h́nh bóng khác. Bây giờ
mới đích thực là tới giai đoạn bà chết
vĩnh viễn, chết ở ngoài đời từ lâu
lẫn chết trong nội giới của chồng từ
khi có sự xuất hiện của nữ sĩ. Vận
sự này làm tôi nhớ lời ai oán được ghi
khắc trên tấm mộ bia trong nghĩa trang Mạc
Đỉnh Chi (Sài G̣n) thuở nào: C'est l'oubli des vivants qui
fait mourir les morts (Chính sự
lăng quên của người sống mới giết chết
những người đă chết).
C̣n về thơ có ẩn dụ
thường là nhữngbài phảng phất Thiền Phong
Thiền vị. Chẳng hạn
đoạn mở đầu của bài thơ Về
Thăm Ao Nhà của nữ
sĩ Thân thi Ngọc Quế. Bài thơ này trong thi tập
đầu tay Giọt Nước Cành Sen của chi:
Đêm
xuống ta về ao cá biếc
Để xem cá chớp ánh trăng non
Ánh
trăng c̣n vỡ làm bao mảnh
Vẫn thấy ḷng ta bóng nguyệt tṛn
Trên mặt chữ, nếu chúng ta nghĩ
rằng đây là một bài thơ viếng cảnh và nói lên
tấm ḷng tuơi sáng nguyên
vẹn của tác giả (bóng nguyệt tṛn)
trước cảnh ngộ tan nát, chia ĺa (ánh trăng c̣n
vỡ làm bao mảnh) th́ đúng quá rồi c̣n ǵ. Nhưng mà
dưới mặt chữ, tác giả nêu ra vấn
đề vĩ đại hơn. Đó là tinh thần
Bát-nhă (tức là tinh thần bất nhị của Phật
giáo). Cái ẩn dụ đó là
hai cái hiện tượng đối đăi ở chung
một bản thể. Cặp hiện tượng thứ
nhất là những mănh vở của ánh trăng trên sóng ao
đối đăi với bóng trăng tṛn đầy trong
ḷng tác tác giả. Cặp hiện tượng thứ hai là
cái cảnh ao trong đêm trăng (ngoại cảnh
đấy) đối đăi với tấm ḷng của tác giả
(nội giới đấy). Ngoại cảnh và nội
giới có một bản thể chung chính là tác giả. H́nh
dáng vỡ nát thành nhiều mảnh và vóc dáng tṛn đày
vẫn thuộc về trăng, cái bản thể chung chính
là trăng. Tinh thần Bát-nhă chính là đây. Huống hồ
bài thơ c̣n có thêm cái tinh thần Bát-nhă thứ ba: Tất
cả (những mảnh trăng vỡ) là một (bóng
trăng).
Thơ Thiền thường mượn
cảnh vật, vận sự để ẩn dụ cho
tinh thần Bát-nhă, cái then chốt, cái căn bản của
Phật pháp. Xin đơn cử bài Minh Nhật bằng
chữ Hán của nữ sĩ Vi Khuê:
Tảo
thần thính điểu minh man
đ́nh đổ hoa ly tú bách hàng
nhàn hạ tiểu di đăng
thượng lộ
Thanh
sơn đối diện bối hoàng giang
Tác giả Vi
Khuê dịch như sau:
Sớm
mai nghe tiếng chim kêu
ra sân
thấy giậu hoa thêu trăm hàng
thảnh thơi
bước nhỏ lên đàng
Núi xanh
trước mặt sông vàng sau lưng
Ở đây tác giả Vi Khuê đâu phải
là khách văn cảnh suông trơn vào buổi b́nh minh. Khách văn
cảnh ở đây ẩn dụ một hành giả
đang lên đường t́m về chứng ngộ.
Đương sự đứng giửa hai cái đối
đăi nhau là núi xanh và sông vàng.
Núi ở thể rắn và ở truiớc mặt, c̣n sông
ở thể lơng và ở sau lưng. Tóm lại, hành gia tu
theo Trung đạo tức là tu theo Phật giáo.
Và chẳng hạn bài Cao của Trương Anh Thụy :
Dưới chân làng mạc nhỏ
Trên đầu mây chấm vai
Người t́m ta chẳng thấy
Thấy lóe đóm sao Mai
Trên đầu và dưới chân là hai cái đối đăi nhị
biên (les deux bornes opposées). Hành giả đứng ở
khoảng giữa. Tu như thế là theo Trung Đạo,
đă đến thời điểm đốn ngộ (loé
ánh sao mai). Tác giả không dùng chữ nào trong kinh Phật,
không tả cảnh suông trơn. Đây là ẩn dụ
một thiền giả tu theo Trung đạo (đạo
Phật) đă thành công, đă chứng ngộ.
Trong thi tập Trốn Vài Giấc Mơ
em của Nguyễn thị
Thanh B́nh, tôi thích bài Hoa Tâm nhất. Nó vừa là bài thơ
ẩn dụ vừa là bài thơ Thiền :
Trên đỉnh non cao t́m mây trắng
Dưới
khe chờ hoa nở đem tin
Hoa chưa kịp
nở tàn mùa trước
Chốn
ấy hoa ḷng rộ b́nh minh
Hoa ở dưới khe là hoa ngoại
giới, hoa ḷng là hoa niội giới, cả hai cùng ở
nơi nhận thức (thấy và cảm thấy) ở
một người tức là tác giả. Ngoại giới và
nội giới đối đăi nhau. Hoa dưới khe héo
tàn (cái diệt) và hoa ḷng
nở rộ (cái sinh) là hai cái đối đăi nhau ở
trong một mùa thu. Cốt tủy Thiền là đây!
Nhưng 'cái hoa ḷng rộ b́nh minh' có nhiều ẩn dụ
tùy theo theo sự chiêu cảm, óc tưỏng tượng,
cơi ấn tượng của từng độc giả. Nó
là một t́nh yêu đang nở muôn tía nh́n hồng; nó cũng
có thể là một niềm lạc quan tươi sáng
dồi dào vừa bừng dậy. Và cũng có thể là
một vấn đề tâm linh đang được
bừng bừng thắp sáng, chẳng hạn như một
cơn đốn ngộ nhiệm màu hay một sự
mặc khải kỳ diệu.
Riêng Đặng thị Quế
Phượng là người làm thơ quá đổi thơ.
Cô tạo cho thơ cô một ẩn dụ huyền bí, tùy
theo chiêu cảm riêng biệt và đặc thù của ḿnh,
độc giả muốn nghĩ sao th́ nghĩ. Nhưng mà
khi độc xong bài thơ Tîch Mịch của cô, chúng ta phải ớn
lạnh, cảm thấy cái điều uyền bí ấy sao
mà ảo diệu, sao mà mầu nhiệm làm chúng ta bàng hoàng
lay động ở cái bí ẩn sau lưng hiện hũu
nói chung, ở sau mặt chữ bài thơ của cô nói riêng:
Có một cái ǵ
đang
chờ đợi ta
trong vẻ
thinh lặng
của
buổi chiều tà
*
Có một cái
ǵ
trong bóng
sương sa
vô cùng hiu
hắt
như
thể hồn ma
*
Có một cái ǵ
bao la
chất ngất
dường
như không phải
là trời
hay đất
*
Có phải
hay chăng
thiên thu
phơ phất
Cái đang chờ đợi ta, nó ở
trong bóng sương sa (tức là trong cơi vô minh mịt
mờ), nó bao la chất ngất, không thuộc về
trời và cũng không thuộc về đất. Nó như
ảo như chân, phơ phất trong cơi cảm nhận,
trong ấn tượng chúng ta từ thuở thiên thu
trước và cho đến thiên thu sau vẫn c̣n hiện
hữu qua trạng thái chập chờn phiêu diễu như
h́nh bóng trong cơn chiêm bao. Vậy nó ẩn dụ cho cái ǵ? Xin thưa, tạm
gọi là cái Chết có được không nào ?
Tô Thùy Yên chỉ thành công về nghệ
thuật thuần túy của thơ mà không thể đưa thơ vào cái sâu
thẳm nhất của bí nhiệm cuộc sống. Mai
Thảo trội hơn Yên ở chỗ thành công ở
nghệ thuật thuần túy của thơ mà c̣n đưa
thơ vào cái vực sâu không đáy của hiện hữu.
Xin đọc bài thơ Tiều Phiến trong thi tập Ta
Thấy H́nh Ta Những Miếu Đền. Ở đây, lư
luận của Vơ Phiến
rằng thơ cần lời mà không cần ư là
một điều sai lầm đáng tiếc lẫn
đáng trách
Đứng ở sát gần tiểu
phiến
Đứng kế lam xanh tiểu phiến
gần
Phiến đưa tắp tắp vào vô
cực
Nơi lá xoay tṛn một thớ gân.
Độc giả sẽ tự hỏi
tiểu phiến là cái phiến nhỏ, nhưng ẩn
dụ của nó là cái ǵ ? Hai câu thơ chót thật
đẹp, thật huyền bí làm chúng ta rờn rợn
Nhưng đó là cái ǵ, từ chỗ xoay tṛn một thớ
gân để đưa tắp tắp vào vô cực? Nó có
thể là một chiếc lá. Nó có thể là cái âm hộ
của phái đẹp (lá đa theo nghĩa bóng) đưa
chúng ta nh́n vào cái bí nhiệm của mọi sinh vật qua
giai đoạn thụ tinh và rồi kết thành bào thai
khởi đầu sự sinh sản. Nó có thể là cái
nọi giới bí hiểm của con người. Nó có
thể từ một lổ nhỏ hẹp để
một Thiền giả khi chứng ngộ đi vào cái vô
biên vô cực trong vô lượng cảnh giới Hoa
tạng Huyền môn. Cái chỗ xoay tṛn một thớ gân
của tiểu phiến có vô số ẩn dụ, tùy theo
chiêu cảm của từngngười đọc mà
hiện hữu.
Xin đọc bài Thớ Gân cũng của Mai Thảo:
Bàn tay
thu lại mặt trời lặn
Cùng nó
x̣e cho nở mặt trời
Bóng
tối lồng trong đường ánh sáng
Chỉ
là mai tóc rẽ hai ngôi
Cũng chính ở bàn tay che cặp mắt,
khi các ngón tay khép lại (bàn tay thu lại) th́ nhà thơ không
thấy mặt trời (coi như mặt trời lặn).
Nhưng khi ngón tay rẽ ra (ciùng nó x̣e ra) th́ nhà thơ
thấy mặt trời (nở mặt trời). Văy th́
mặt trời là cái cố định, trưóc sao sau
vậy, nó ẩn dụ cho cái Chân Tâm. Bởi tại cai
vọng thức (được ẩn dụ cho bàn tay) nhà
thơ khôn thấy Chân Tâm nếu vọng thức dầy
đặc (được ẩn dụ qua bàn tay thu
hẹp lại với các ngón khép kín). Và nhà thơ chỉ
thấy được Chân Tâm khi nào vọng thức chia
chẻ và phân tán đi
(được ẩn dụ bằng bàn tay xoè ra).
Như vậy mặt trời ẩn hay hiện đối
với tác nhân (Mai Thảo) chỉ là do sự khép mở
của bàn tay do thớ gân điêu khiển). C̣n mặt
trời vẫn không thay đổi. Nó cũng giống
như trường hợp chỉ một mái tóc, nhưng mái tóc ấy chia
thành ngôi bên trái và ngôi bên phải là tại ta rẻ
đường ngôi. Nếu ta chỉ chải ngưọc
tóc về phía sau, không rẽ đường ngôi th́ mái tóc
chỉ là một mảng đen huyền mà thôi.
Thớ gân điều khiển bàn tay khép hay
x̣e để cho tác nhân thấy mặt trời hay không
ẩn dụ cho côn phu hành tŕ của Thiền giả t́m
về chứng ngộ.
Xin đọc bài Lẻ Một cũng của Mai Thảo:
Sách
một dẫy nằm trơ trên giá
Cạnh nguời thân thế cũng trơ vơ
Sách,
người hai cơi cùng hư hoại
Nơi
một ngh́n chương thiếu một tờ
Người đọc sách (chủ thể)
và sách (đối tượng), cả đều cô
đơn chỉ về cảnh ngộ. Chúng chỉ làm cho
thơ bâng khuâng ngậm ngùi, nhưng không có ǵ đặc
sắc. Tuy nhiên, khi tác giả báo trước là cả hai
cùng hư hoại tức là ông sắp đưa thơ vào
một vấn đề viễn thâm hơn, một vấn
nạn dựa trên tư tưởng hữu sinh hữu
diệt, cái tinh thần then chốt của Phật giáo. Cái
vấn nạn ấy, cái vô thường ở ngh́n
chương kinh sách để cho hành giả bơi
ngược ḍng hoạt diệt, để chứng
ngộ cái thuờng hằng bất biến. Nhưng ngh́n
chương sách ấy lại thiếu một tờ. Cái
tờ thiếu đó chính là cái bí nhiệm để giúp
hành giả vào một thời điểm chín muồi
gặp một đốn ngộ (chứng ngộ tức
khắc trong ṿng một sát-na/ l'imédiat santori) bừng tỏ
cái Chân Tâm không sinh không diệt, tức là nhập vào
Niết Bàn, tức là không c̣n sinh không c̣n tử (hoại
diệt) nữa . Chính hành giả và mỗi người
trong chúng ta phải tự t́m lấy cái tờ giấy
thiếu sót ấy, tờ giấy
của cá thể này không giống tờ giấy của cá thể kia v́ căn
cơ mỗi cá thể đều khác nhau.
* * *
Riêng trong lănh vực thơ, cành mai của
Măn Giác Thiền Sư, bóng trăng của Thân thị
Ngọc Quế, khách nhàn du giữa núi xanh trước
mặt sông vàng sau lưng của Vi Khuê, đóm sao mai của
Trương Anh Thụy, hoa ḷng rộ b́nh minh của
Nguyễn thị Thanh B́nh, bóng thiên thu phơ phất của
Đặng thị Quế Phượng là những ẩn
dụ đưa độc giả nắm bắt nhưng
vấn đề cao siêu. Đặc sắc nhất là
tiểu phiến, thớ gân, đường ngôi rẻ tóc
của Mai Thảo dễ ǵ
để cho một nhà thơ lục tục
thường tài t́m gặp đưa vào thơ, biến cơi
thơ thêm mầu nhiệm, biến vóc dáng thơ thêm vĩ
đại bao la. Những cái ẩn dụ ấy bị
mọi kẻ khoác áo phê b́nh gia không t́m gặp nên chúng như
những viên bảo ngọc ẩn măi trong những tảng
đá xù x́ thô nhám. C̣n ẩn dụ trong truyện ngắn Tan
Trong Sương Mù của
Nguyễn thị Hoàng bị họ lờ đi dù chị
đă khơi sáng cho họ thấy
trong tuyển tập Những Truyện Ngắn Hay
Nhất Trên Quê Hương do
nhà xuất bản Sóng thực hiện. Nếu chúng ta chú ư
một chút thỉ sẽ thấy cái khơi sáng ở
đoạn tác giả nêu cái
ẩn ư của cốt truyện và nêu cái lư do tại sao chị chọn
truyện ngắn này để đóng góp cho tác phẩm.
Chỉ riêng bàn qua ẩn dụ, chúng ta
mới thấy văn chương hiện đại và
cận đại của chúng ta hầu như không có phê
b́nh gia nào. Tuy nhiên vẫn có những nhà biên khảo văn
chương có tầm vóc nguy
nga về tài năng. Phải kể
Hoàng Ngọc Tuấn (bên Úc Châu), Trần Hữu
Thục, Đào Trung Đạo, Đặng Phùng Quân (Hoa
Kỳ), Thụy Khuê (Pháp). Những học giả này dù
viết biên khảo phong phú và sâu sắc, đôi khi lỡ
trớn trượt nhào qua lănh vực phê b́nh họ cũng
tỏ ra rất sâu sắc và hào hứng lắm.